Chào mừng bạn đến với Cổng thông tin điện tử Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Tỉnh An Giang
Mặt trận Tổ quốc với việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc
Tin tức sự kiện

Mặt trận Tổ quốc với việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc

11/09/2019

Chủ tịch Hồ Chí Minh, anh hùng giải phóng dân tộc vĩ đại, nhà văn hóa kiệt xuất của dân tộc ta và của nhân loại, đã để lại cho chúng ta một di sản tinh thần vô giá, một hệ thống tư tưởng về nhiều mặt. Trong đó tư tưởng về đại đoàn kết là tư tưởng nổi bật, có giá trị trường tồn đối với quá trình phát triển của dân tộc ta và của toàn nhân loại.

Responsive image
 

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc có nguồn gốc từ nhiều yếu tố và được hình thành trên cơ sở kế thừa và phát triển chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đoàn kết của dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, đặc biệt là đã vận dụng và phát triển sáng tạo, chủ nghĩa Mác – Lênin phù hợp với tình hình và điều kiện cụ thể của Việt Nam trong từng giai đoạn cách mạng.
Đề cập đến chủ nghĩa yêu nước của dân tộc, chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước”. Chủ nghĩa yêu nước, truyền thống đoàn kết, cộng đồng của dân tộc Việt Nam là cơ sở đầu tiên, sâu xa cho sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc.
Chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nhân dân là ng¬ười sáng tạo ra lịch sử; giai cấp vô sản muốn thực hiện được vai trò lãnh đạo cách mạng phả liên minh công nông. Và đây cũng chính là cơ sở để xây dựng lực lượng to lớn của cách mạng.
Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin là vì chủ nghĩa Mác- Lênin đã chỉ ra cho các dân tộc bị áp bức con đ¬ường tự giải phóng. V.I. Lênin cho rằng, sự liên minh giai cấp, trước hết là liên minh công nông là hết sức cần thiết bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng vô sản, rằng nếu không có sự đồng tình và ủng hộ của đa số nhân dân lao động với đội ngũ tiên phong của nó, tức giai cấp vô sản, thì cách mạng vô sản không thể thực hiện được.
Như vậy, chủ nghĩa Mác-Lênin không những đã chỉ ra vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử mà còn chỉ ra vị trí của khối liên minh công nông trong cách mạng vô sản. Đó là những quan điểm lý luận hết sức cần thiết để Hồ Chí Minh có cơ sở khoa học trong sự đánh giá chính xác yếu tố tích cực cũng như¬ những hạn chế trong các di sản truyền thống, trong tư¬ tưởng tập hợp lực lượng của các nhà yêu n¬ước Việt Nam tiền bối và các nhà cách mạng lớn trên thế giới, từ đó hình thành tư¬ t¬ưởng của Người về đại đoàn kết dân tộc.
Không chỉ được hình thành từ những lý luận suông, tư tưởng này còn xuất phát từ thực tiễn lịch sử của dân tộc và nhiều năm bôn ba khảo nghiệm ở nước ngoài của Hồ Chí Minh. Trong quá trình ra đi tìm đường cứu nước cũng như sau này, Hồ Chí Minh đã luôn chú ý nghiên cứu, tổng kết những kinh nghiệm của phong trào yêu nước Việt Nam và phong trào cách mạng ở nhiều n¬ước trên thế giới, nhất là phong trào giải phóng dân tộc ở các n¬ước thuộc địa. Đặc biệt, Hồ Chí Minh đã nghiên cứu những bài học của cuộc Cách mạng Tháng Mười. Những bài học về huy động, tập hợp lực lượng quần chúng công nông đông đảo để giành và giữ chính quyền cách mạng, để xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa đã giúp Hồ Chí Minh thấy rõ tầm quan trọng của việc đoàn kết, tập hợp lực lượng cách mạng, trước hết là công nông.
Đối với phong trào cách mạng ở các n¬ước thuộc địa và phụ thuộc, Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý đến Trung Quốc và Ấn Độ là hai n¬ước có thể đem lại cho Việt Nam nhiều bài học rất bổ ích về tập hợp các lực l¬ượng yêu n¬ước tiến bộ để tiến hành cách mạng. Những kinh nghiệm rút ra từ thành công hay thất bại của các phong trào dân tộc dân chủ, nhất là kinh nghiệm thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga là cơ sở thực tiễn cần thiết cho việc hình thành tư¬ t¬ưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc
Với Hồ Chí Minh, đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của nhân dân ta. Người cho rằng: Muốn giải phóng các dân tộc bị áp bức và nhân dân lao động phải tự mình cứu lấy mình bằng con đường cách mạng vô sản. Trong từng thời kỳ, từng giai đoạn cách mạng, có thể và cần thiết phải điều chỉnh chính sách và phương pháp tập hợp lực lượng cho phù hợp với những đối tượng khác nhau, nhưng đại đoàn kết dân tộc luôn luôn được Người coi là vấn đề sống còn của cách mạng.
Đoàn kết quyết định thành công cách mạng. Vì đoàn kết tạo nên sức mạnh, là then chốt của thành công. Muốn đưa cách mạng đến thắng lợi phải có lực lượng đủ mạnh, muốn có lực lượng phải quy tụ cả dân tộc thành một khối thống nhất. Giữa đoàn kết và thắng lợi có mối quan hệ chặt chẽ, qui mô của đoàn kết quyết định quy mô, mức độ của thành công.Và Người khuyên dân ta rằng:
“Dân ta xin nhớ chữ đồng:
Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh”
Đây chính là con đường đưa dân ta tới độc lập, tự do.
Hồ Chí Minh cho rằng “ Đại đoàn kết dân tộc không chỉ là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của đảng mà còn là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cả dân tộc”. Bởi vì, đại đoàn kết dân tộc chính là nhiệm vụ của quần chúng, do quần chúng, vì quần chúng. Đảng có sứ mệnh thức tỉnh, tập hợp, đoàn kết quần chúng tạo thành sức mạnh vô địch trong cuộc đấu tranh vì độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân, hạnh phúc cho con người.
Thống kê và phân tích những bài viết, bài nói của Bác đã được công bố trong Hồ Chí Minh toàn tập cho thấy Bác Hồ đã đề cập đến đoàn kết trong 839 bài viết, chiếm tỷ lệ 43%; sử dụng từ đoàn kết, đại đoàn kết tới 1.809 lần. Trong đó có những bài được nhắc nhiều như: 16 lần trong “ Sửa đổi lối làm việc”, 17 lần trong Bác nói tại buổi khai mạc Đại hội thống nhất Việt Minh - Liên Việt, 19 lần trong diễn văn kỷ niệm Quốc khánh 2-9-1957. Trong Di chúc, Bác đã sử dụng 8 lần từ đoàn kết với ba vấn đề: Đại đoàn kết dân tộc và việc xây dựng khối Đại đoàn kết dân tộc; Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng; Đoàn kết quốc tế, hữu nghị và hợp tác.
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân. “Dân” chỉ mọi con dân đất Việt, con rồng cháu tiên, không phân biệt dân tộc đa số, người tín ngưỡng với người không tín ngưỡng, không phân biệt già trẻ , gái, trai, giàu, nghèo. Nói đến đại đoàn kết dân tộc cũng có nghĩa phải tập hợp mọi người dân vào một khối trong cuộc đấu tranh chung. Người đã nhiều lần nói rõ: “ ta đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập tổ quốc; ta còn phải đoàn kết để xây dựng nước nhà. Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự tổ quốc và phụng sự nhân dân thì ta đoàn kết với họ”.
Muốn thực hiện đại đoàn kết toàn dân thì phải kế thừa truyền thống yêu nước- nhân nghĩa- đoàn kết của dân tộc, phải có tấm lòng khoan dung, độ lượng với con người. Xác định khối đại đoàn kết là liên minh công nông, trí thức. Tin vào dân, dựa vào dân, phấn đấu vì quyền lợi của dân. Người cho rằng: liên minh công nông- lao động trí óc làm nền tảng cho khối đại đoàn kết toàn dân, nền tảng được củng cố vững chắc thì khối đại đoàn kết dân tộc càng được mở rộng, không e ngại bất cứ thế lực nào có thể làm suy yếu khối đại đoàn kết dân tộc.
Đại đoàn kết dân tộc phải biến thành sức mạnh vật chất có tổ chức là Mặt trận dân tộc thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng. Mặt trận dân tộc thống nhất phải được xây dựng theo những nguyên tắc: Trên nền tảng liên minh công nông dưới sự lãnh đạo của Đảng; Mặt trận hoạt động theo nguyên tắc hiệp thương, dân chủ lấy việc thống nhất lợi ích của tầng lớp nhân dân làm cơ sở để củng cố và không ngừng mở rộng; Đoàn kết lâu dài, chặt chẽ, đoàn kết thực sự, chân thành, thân ái giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Phương châm đoàn kết các giai cấp, các tầng lớp khác nhau của Hồ Chí Minh là: “Cầu đồng tồn dị” – Lấy cái chung, đề cao cái chung, để hạn chế cái riêng, cái khác biệt. Qua đó, ta thấy để vận dụng, xây dựng, củng cố, mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cần chú ý những vấn đề sau đây:
Một là, phải thấu suốt quan điểm đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Hai là, lấy mục tiêu chung của sự nghiệp cách mạng làm điểm tương đồng, xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, thành phần, giai cấp, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai.
Ba là, bảo đảm công bằng và bình đẳng xã hội, chăm lo lợi ích thiết thực, chính đáng, hợp pháp của các giai cấp, các tầng lớp nhân dân; kết hợp hài hòa các lợi ích cá nhân- tập thể- toàn xã hội; thực hiện dân chủ gắn với giữ gìn kỷ cương, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí; không ngừng bồi dưỡng, nâng cao tinh thần yêu nước, ý thức độc lập dân tộc, thống nhất tổ quốc, tinh thần tự lực tự cường xây dựng đất nước; xem đó là những yếu tố quan trọng để củng cố và phát triển khối đại đoàn kết dân tộc.
Bốn là, đại đoàn kết là sự nghiệp của cả dân tộc, của cả hệ thống chính trị mà hạt nhân lãnh đạo là các tổ chức đảng được thực hiện bằng nhiều biện pháp, hình thức, trong đó các chủ trương của đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước có ý nghĩa quan trọng hàng đầu.
Lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, trọng nhân nghĩa, khoan dung, đùm bọc yêu thương nhau đã thấm sâu vào tư tưởng, tình cảm, tâm hồn mỗi người con đất Việt, trở thành lẽ sống, chất kết dính gắn bó các thành viên trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Và lịch sử qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, đã chứng minh đại đoàn kết toàn dân tộc đã trở thành di sản vô giá, truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta; bất luận trong hoàn cảnh nào, đại đoàn kết toàn dân tộc đã kết thành sức mạnh vô địch, đưa dân tộc ta vượt lên mọi khó khăn, thử thách, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, lập nên những kỳ tích vẻ vang.
Ngay từ khi mới ra đời và trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn xác định đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược, là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc đã trở thành một trong những bài học kinh nghiệm lớn, là phương thức và cũng là điều kiện bảo đảm thực hiện thành công sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước trong mỗi giai đoạn cách mạng.
Thực hiện sứ mệnh của mình, trong mỗi giai đoạn lịch sử, với chức năng, vai trò tập hợp, đoàn kết các giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo và các thành phần trong xã hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã hiệu triệu, quy tụ, tập hợp nhân dân thành khối đại đoàn kết toàn dân tộc vững chắc, chung sức, chung lòng quyết tâm thực hiện các nhiệm vụ chính trị vẻ vang của Đảng, Nhà nước, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam luôn là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, nơi thể hiện ý chí, nguyện vọng của đồng bào cả trong và ngoài nước. Với nguyên tắc hiệp thương dân chủ, được coi là “chìa khóa vạn năng”, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã tập hợp, đoàn kết cả dân tộc “một lòng, một dạ” theo Đảng làm nên những thắng lợi vĩ đại, viết lên những trang sử hào hùng của cả dân tộc, đưa nhân dân ta từ thân phận nô lệ, trở thành chủ nhân của đất nước; mở ra kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, cả nước cùng thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; mở rộng quan hệ đối ngoại với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Thời gian qua, nhìn chung, khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức được mở rộng hơn, là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội, giữ vững ổn định chính trị xã hội của đất nước. Trong công cuộc đổi mới, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với tính chất là một tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện rộng lớn nhất của nhân dân ta, nơi thể hiện ý chí và nguyện vọng của mọi tầng lớp nhân dân, nơi hiệp thương và thống nhất hành động của các thành viên, đã phối hợp với chính quyền giải quyết ngày càng có hiệu quả những vấn đề bức xúc của nhân dân, thực hiện dân chủ, đổi mới xã hội, chăm lo lợi ích chính đáng của các tầng lớp nhân dân; tham gia ngày càng thiết thực vào việc xây dựng, giám sát, bảo vệ đảng và chính quyền.
Với tư cách là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã phối hợp ngày càng nhiều hơn với chính quyền các cấp từ trung ương đến địa phương trong việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế – xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại nhằm cùng nhau nỗ lực xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Trong công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ngày càng có vai trò quan trọng trong tập hợp, vận động, đoàn kết rộng rãi đồng bào ở trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài theo Đảng làm cách mạng. Vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được Đảng và Nhà nước tiếp tục ghi nhận trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), được hiến định tại Điều 9 Hiến pháp năm 2013 và được cụ thể hóa trong Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015.
Những kết quả đạt được của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức đoàn thể nhân dân đã được Đại hội XII của Đảng khẳng định: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân có đổi mới cả về nội dung và phương thức hoạt động; phát huy ngày càng tốt hơn vai trò tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; cùng Đảng, Nhà nước chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; tham gia xây dựng Đảng, quản lý nhà nước, quản lý xã hội; thường xuyên tổ chức các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước, góp phần tích cực vào những thành tựu chung của đất nước”
Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định: Đại đoàn kết dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là động lực và nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Để phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, Đại hội XII đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo. Phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” làm điểm tương đồng; tôn trọng những điểm khác biệt không trái với lợi ích chung của quốc gia - dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước, tăng cường quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước, tạo sinh lực mới của khối đại đoàn kết dân tộc.
Thấm nhuần lời dạy của Bác và các quan điểm của Đảng ta về đại đoàn kết dân tộc; trong nhiều năm qua, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam các cấp trong tỉnh luôn quan tâm và tham mưu cho cấp ủy có nhiều hoạt động thiết thực, hiệu quả để ngày càng tạo được sự đồng thuận xã hội, củng cố và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong tỉnh.
Trong công tác tuyên truyền nắm dư luận xã hội, ngoài những cách làm truyền thống như trước đây, Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh đã chủ động phối hợp với các đoàn thể chính trị-xã hội, các tổ chức thành viên và các cơ quan thông tin tuyên truyền để thực hiện công tác tuyên truyền; biên soạn ngắn gọn tài liệu 2 thứ tiếng Việt Nam - Campuchia cung cấp cho MTTQ và các vị chức sắc, chức việc tiêu biểu ở các huyện có đông đồng bào Khmer để thực hiện công tác tuyên truyền; hàng tháng, thiết kế bảng hỏi liên quan đến các vấn đề bức xúc của người dân, cung cấp cho khoảng 500 vị báo cáo viên, cộng tác viên, Ủy viên Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh, huyện để nắm tình hình. Hàng năm, phối hợp với Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy và các sở, ngành liên quan tổ chức các cuộc điều tra nắm dư luận xã hội (DLXH) về những vấn đề bức xúc, những vấn đề người dân quan tâm; tổ chức tọa đàm về giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền...
Từ những cách làm trên, công tác tuyên truyền của MTTQ ngày càng đạt hiệu quả, việc nắm thông tin DLXH trong các tầng lớp nhân dân nội dung ngày càng phong phú, đa dạng, độ tin cậy cao; thông tin có tính định lượng, kịp thời phản ánh với cấp ủy và Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam có giải pháp phù hợp, tạo sự đồng thuận xã hội. Kết quả của các cuộc điều tra nắm DLXH là một trong những cơ sở quan trọng góp phần nâng cao chất lượng Thông báo Mặt trận tham gia xây dựng chính quyền trình bày tại các kỳ họp HĐND các cấp trong tỉnh.
Bên cạnh đó, thường xuyên duy trì các cuộc gặp gỡ trao đổi, thăm viếng lẫn nhau giữa các tổ chức tôn giáo, dân tộc nhân những ngày lễ trọng của các tôn giáo do MTTQ tỉnh tổ chức. Hàng năm tổ chức cho các vị chức sắc, chức việc tôn giáo tiêu biểu trong tỉnh đi tham quan, tìm hiểu các di tích văn hóa, lịch sử cách mạng của dân tộc như: Khu di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt Côn Đảo, các di tích lịch sử cách mạng tại tỉnh Quảng Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, thăm Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam...
Thông qua các hoạt động trên, góp phần giáo dục truyền thống, đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động trong các tín đồ tôn giáo, bà con các dân tộc nâng cao ý thức cảnh giác trước âm mưu diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch nhằm làm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Đồng thời, qua đó đã tạo điều kiện cho các vị chức sắc, chức việc, tôn giáo, dân tộc tìm hiểu, giao lưu trao đổi trong không khí vui tươi phấn khởi góp phần làm tăng thêm tinh thần đoàn kết thân thiện trong khối đại đoàn kết dân tộc.
Các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động do MTTQ phát động ngày càng được sự quan tâm của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân; nhiều mô hình, cách làm hay thiết thực, hiệu quả ngày càng phát huy được sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc.
Song song đó, MTTQ một số địa phương trong tỉnh duy trì thường xuyên việc tham mưu cho cấp ủy tổ chức các cuộc đối thoại, lắng nghe những bức xúc, nguyện vọng chính đáng của người dân; nhất là những vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống, việc làm, đất đai, môi trường...; từ đó hạn chế được tình trạng khiếu nại, khiếu kiện, tố cáo vượt cấp, xây dựng được niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và cấp ủy, chính quyền địa phương; tích cực tham gia thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giảm nghèo ở địa phương. Bình quân hàng năm Quỹ “Vì người nghèo” các cấp trong tỉnh đã tiếp nhận tiền và hiện vật quy tiền từ khoảng từ 100 đến 150 tỷ đồng để hỗ trợ cất mới, sửa chữa hàng ngàn căn nhà Đại đoàn kết; thăm hỏi, tặng quà, trợ giúp khó khăn đột xuất, hỗ trợ học hành, khám chữa bệnh, sản xuất cho hàng trăm ngàn lượt hộ nghèo, hộ khó khăn và thực hiện các chương trình an sinh xã hội trên địa bàn.
Có thể nói, với sự quan tâm chỉ đạo thường xuyên của Thường trực Tỉnh ủy; Hướng dẫn tận tình của Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam cùng với sự năng động sáng tạo của Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh, thời gian qua các hoạt động của MTTQ, đã tạo được sự đồng tình, phấn khởi trong các tôn giáo, các dân tộc và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh, góp phần củng cố và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc tỉnh nhà.
Để tiếp tục tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ hội nhập quốc tế hiện nay, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đang nỗ lực cùng Đảng, Nhà nước và các tổ chức thành viên đổi mới nội dung và phương thức hoạt động để tăng cường củng cố và mở rộng khối đại đoàn kết trên cơ sở các nhiệm vụ cụ thể sau:
Tham mưu, đề xuất cấp ủy, chính quyền các cấp cần đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, mở rộng và nâng cao chất lượng giáo dục truyền thống yêu nước, trách nhiệm công dân, đạo đức xã hội, đạo đức nghề nghiệp, xây dựng sự đồng thuận xã hội và đề cao ý thức trách nhiệm cộng đồng, ý chí tự lực, tự cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, coi đó là những yếu tố quan trọng để củng cố và phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Nâng cao vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân trong việc thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, công tác dân tộc, tôn giáo. Đa dạng hóa các hình thức tập hợp, động viên nhân dân đồng tâm, hiệp lực thực hiện thắng lợi chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; tích cực nắm bắt, phản ánh kịp thời tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của đoàn viên, hội viên; đồng thời làm tốt vai trò giám sát đối với các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, góp phần xây dựng chính quyền các cấp trong sạch, vững mạnh.
Tham mưu với Đảng, Nhà nước có chính sách động viên, bồi dưỡng, hướng dẫn và phát huy vai trò của người có uy tín trong đồng bào dân tộc, chức sắc tôn giáo trong việc thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo vệ an ninh, trật tự trên địa bàn. Chủ động đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, kích động của các thế lực thù địch, phản động chống phá khối đại đoàn kết toàn dân tộc hòng chia rẽ nhân dân với Đảng, Nhà nước.
Đẩy mạnh thực hiện các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước, nhất là cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động.
Tiếp tục tham mưu thể chế hóa phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” thành những chính sách, quy chế, quy định cụ thể để nhân dân phát huy quyền làm chủ trên thực tế và thực hiện tốt trách nhiệm và nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội. Phối hợp xây dựng cơ chế, chính sách và các hình thức tổ chức để nhân dân được phát huy quyền làm chủ trên các lĩnh vực của đời sống xã hôi; phát huy dân chủ gắn liền với giữ nghiêm kỷ cương, phép nước, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí. Phối hợp với chính quyền các cấp, tổ chức các cuộc đối thoại, lắng nghe, tiếp thu, tập trung giải quyết các khó khăn, vướng mắc, bức xúc, nguyện vọng chính đáng của người dân, nhất là những vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống, việc làm, đất đai, môi trường...; phối hợp xử lý nghiêm minh các vụ việc tiêu cực, tham nhũng; giải quyết ổn định những vụ việc khiếu kiện đông người, không để kéo dài, phức tạp.
Quan tâm công tác đối ngoại nhân dân, tích cực vận động và có chính sách thu hút người Việt Nam ở nước ngoài hướng về Tổ quốc, xây dựng quê hương, đất nước giàu mạnh, giữ gìn bản sắc dân tộc, hình ảnh con người, đất nước Việt Nam; khen thưởng, động viên kịp thời những người có thành tích tiêu biểu.
 Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức “gần dân, hiểu dân, học dân, trọng dân và có trách nhiệm với dân”, gương mẫu, tận tụy với công việc, nói đi đôi với làm, thực sự là công bộc của nhân dân.
 Trân trọng, tôn vinh những cống hiến, đóng góp của nhân dân, biểu dương kịp thời những tấm gương người tốt, việc tốt và nhân rộng các điển hình tiên tiến.                                    


* Tài liệu tham khảo:
1.Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng.
2. Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
3. Các bài phát biểu của Tiến sĩ Trần Thanh Mẫn, Bí thư Trung ương Đảng,
Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam.
4. Tập bài giảng về Công tác Mặt trận.
(Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự thật).

 

 

Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh

Hình ảnh hoạt động

Video Clip

Thống kê truy cập
  • Đang truy cập:
  • Tổng lượt Truy cập: